Đi
ăn đám Giỗ
Lê B́nh
Trong văn hóa của người Việt không quan trọng ngày
sinh nhật như người phương Tây. Đối với người Việt th́ ngày tử (ngày
giỗ) là ngày quan trọng nhất. Sinh nhật chỉ có một lần khi
đầynăm (gọi là ngày thôi nôi) cúng kính linh đ́nh, cơm canh rượu
thịt hoa
quả bánh trái…v.v. Và sau đó không ai nhớ đến ngày sanh mỗi năm
để làm tiệc (có chăng là mấy người ở phố, ở thành thị theo tây
phương), nhưng ngày tử mới thiệt là quan trọng. Mỗi năm có đám
giỗ một lần. Tết đến th́ giỗ gia tiên chung để mới ông bà tổ
tiên về ăn tết, c̣n những ngày cúng giỗ, kỵ cơm…mỗi người thân
tộc trong gia đ́nh đều được nhớ đến và có riêng một ngày để cúng,
để giỗ.
Đám giỗ của người Việt rất là quan trọng. Ở
nhà thờ Họ th́ cúng lớn, ở mỗi gia đ́nh th́ cúng nhỏ một mâm cơm…Theo
phong tục nguời Việt lấy ngày mất là quan trọng, cho nên ngày đó
người thân trong gia đ́nh đi thăm phần mộ, làm cỏ, đắp mộ, sửa
lại những nơi bị hư hại. Đây cũng là dịp gặp mặt người thân
trong gia đ́nh trong ḍng họ, họp mặt để tưởng nhớ người đă
khuất. Vào dịp đó người ta thường tổ chức ăn uống (nên mới gọi
là ăn giỗ) trước cúng sau ăn, cũng là để cho cuộc gặp mặt đậm đà
ấm cúng, kéo dài thời gian sum họp, kể chuyện tâm t́nh, chuyện
làm ăn. Với ư nghĩa "Uống nước nhớ nguồn" việc đó được coi là
thuần phong mỹ tục.
Ngày giỗ theo Hán-Việt Tự Điển là huư
nhật hay kỵ nhật, tức là lễ kỷ niệm ngày mất của tổ tiên, ông
bà, cha mẹ. Các cụ trong hội Người Việt Cao Niên cho biết, ngày
trước Lễ giỗ gọi là chính kỵ; chiều hôm trước lễ chính kỵ có lễ
tiên thường (nếm trước), con cháu sắm một ít lễ vật, dâng lên
mời gia tiên nếm trước. Ngày xưa, ngày gỗ gia chủ mời bà con
làng xóm ăn giỗ cả hai lễ tiên thường và chính kỵ. sau nầy người
ta giản lược đi, chỉ cúng một lần nhưng với hương hoa trà rượu
cúng cả hai lễ. Theo nhiều người cao niên th́ đúng theo phong
tục th́ trước ngày chết (lễ tiên thường) phải cúng chiều, cúng
đúng ngày chết (lễ chính kỵ) phải cúng buổi sáng.
Theo gia lễ: "Ngũ đại mai thần chủ", hễ
đến năm đời th́ lại đem chôn thần chủ của cao tổ đi mà nhấc lần
tằng tổ khảo lên bậc trên rồi đem ông mới mất mà thế vào thần
chủ ông khảo. Theo nghĩa cửu tộc (cửu huyền-9 đời-chín đời thành
người dưng): Cao, tằng, tổ, phụ (4 đời trên); chúng ta và: tử,
tôn, tằng tôn, huyền tôn (4 đời dưới). Như vậy là chỉ có 4 đời
làm giỗ (cao, tằng, tổ, phụ) tức là kỵ, cụ (hay cố), ông bà, cha
mẹ. Từ "Cao" trở lên gọi chung là tổ tiên th́ không cúng giỗ nữa
mà nhập chung vào kỳ xuân tế, hoặc phụ tế vào ngày giỗ.
Trong tục lệ thờ cúng tổ tiên, người Việt coi
trọng việc cúng giỗ vào ngày mất (c̣n gọi là kỵ nhật) thường
được tính theo âm lịch (hay c̣n gọi là ngày ta). Họ tin rằng đó
là ngày con người đi vào cơi vĩnh hằng. Không chỉ ngày giỗ, việc
cúng tổ tiên c̣n được thực hiện đều đặn vào các ngày sóc (ngày
mồng một ), ngày vọng (ngày rằm ), và các dịp lễ tết.
Bên cạnh đó, vào những khi trong nhà có
việc quan trọng như dựng vợ gả chồng, sinh con, làm nhà, đi xa,
thi cử..., người Việt cũng dâng hương, làm lễ cúng tổ tiên để
cầu tổ tiên phù hộ, hay để tạ ơn khi công việc thành công. Việc
thờ cúng tổ tiên của người Việt là từ niềm tin người sống cũng
như người chết đều có sự liên hệ mật thiết và hỗ tương. Con cháu
th́ thăm hỏi, khấn cáo tiền nhân. Tổ tiên th́ che chở dẫn dắt
hậu thế, cho nên việc cúng giỗ là thực hiện mối giao hảo giữa
cơi dương và cơi âm.
Bàn thờ tổ tiên bao giờ cũng đặt tại
nơi sạch sẽ và trang trọng nhất trong nhà. Trên bàn thờ th́ bày
hương, đèn, bài vị hay h́nh ảnh người quá cố. Đồ cúng không thể
thiếu hương, hoa, thức ăn, trà rượu, và đồ vàng mă. Sau khi tàn
hương, đồ vàng mă đem đốt, được gọi là "hoá vàng", c̣n chén rượu
cúng th́ đem rót xuống đồ vàng mă đă đốt. Sau khi cúng giỗ, gia
đ́nh dọn thức ăn vừa cúng xong để cùng ăn, coi như hưởng lộc của
tiền nhân. Bạn bè thân thuộc cũng được mời đến, tức là đi ăn
giỗ. Ở hải ngoại th́ nhà cửa “văn minh”, sợ khói nhang ám trong
nhà cho nên việc cúng giỗ không được cử hành ở nhà mà đem vào
chùa…v.v. đó là tục thờ "hậu" do nhà chùa thực hiện. Thân nhân
của người quá cố đă cúng tiền vào chùa hay đ́nh để được hưởng lễ
vật vào những ngày kỵ nhật. V́ kính trọng tổ tiên, người Việt
coi việc tang ma là trọng sự, gắn liền với việc thờ cúng tổ
tiên.
Chuyện cúng giỗ (có lẽ) người miền Bắc,
miền Trung…ŕnh rang và bài bản hơn(?) Ở miền Nam th́ đám giỗ
đơn sơ và mang nhiều ư nghĩa tập họp bà con thân tộc, hàng xóm
láng giềng. Ở Nam Kỳ ít có nhà thờ họ, do con gịng trưởng coi
nhà thờ của họ, và có ruộng vườn hương hỏa để cúng giỗ tổ tiên.
Miền Nam lễ cúng đ́nh, Kỳ Yên là ŕnh rang, là nỗi đ́nh nổi đám
hơn.
Vào ngày Âm lịch mồng 10 tháng 3 vửa
qua, nhiều người đi ăn đám giỗ Tổ ở dền Quốc Tổ Vọng Từ. Giỗ Tổ
Hùng Vương. Đám cúng linh đ́nh lắm, các bà khăn vành rây, y
trang phục sức áo xanh, áo đỏ trong tiếng chiêng tiếng trống quỳ
sụp lạy, dâng hương hoa trà rượu lên bàn thờ, rồi đọc sớ. Không
khác lễ Kỳ Yên. Cuộc lễ kéo dài hơn 1 tiếng đồng hồ. Sau đó,
đúng theo tục lệ mọi người được mời ở lại ăn giỗ, gọi là thụ lộc
Tổ.
Ngồi chung bàn có các cụ trong hội Cao Niên,
các ông chức sắc, nhân sĩ trong vùng. Bữa cơm ngon lạ. Ngon
thiệt t́nh. Hơn 10 bàn được dọn ra từ nhà trên xuống nhà ngang,
đến tận nhà ăn sau bếp. Các ông, các bà đều tham dự. Nào thịt
luộc, canh cá th́ là, thịt heo quay, xôi gấc, bánh chưng, gỏi,
cà ri…Mỗi thứ một dĩa nhỏ…nhưng ăn hoài không hết…Những thức ăn
trên bàn nho nhỏ, xinh xinh tưởng rằng gắp vài đủa là hết
sạch…vậy mà ăn hoài, ăn miết…hơn chục người một bàn mà ăn măi
vẫn không vơi….Đúng là cơm Thạch Sanh ăn hoài c̣n hoài. Không
phải vậy đâu, v́ đây là đám giỗ Tổ cho nên trong đ́nh đă cắt cử
vài người tiếp thức ăn liên tục. Những người tiếp thức ăn đi lên
đi xuống, đi qua đi lại như “hồ điệp xuyên hoa”….thịt quay vừa
vơi một ít th́ dĩa lại dầy, tô cơm hơi lưng lưng th́ đă có người
“tiếp viện”, canh cá th́ là, dĩa xôi gà, xôi gấc, xôi ṿ…cứ vun
cao. đầy tràn. Các cụ vừa ăn vừa bàn chuyện thế sự, nào phong
tục nước Nam, nào lăng tẩm của Hùng Vương ở Đền Hùng, Phú Thọ…Ôi
biết cơ man nào mà kể, đây là dịp con cháu nghe chuyện đời xưa.
Bữa ăn chưa xong th́ ông “thủ từ”, tức
là ông từ ǵữ đền, đă mau mắn gửi mỗi một khách mời một cái bánh
chưng, một hộp bánh dầy. Tích Bánh Chưng, Bánh Dầy từ thời Hùng
Vương được kể lại. Một ông cụ nói “Miếng thịt làng bằng sàng xó
bếp”, một cụ ông khác lại thêm “Được ăn, được nói, được gói mang
về”. Mà đúng thiệt như vậy. Có lẽ cái tục nầy có từ thưở Hùng
Vương dựng nước chăng? Mà cũng có thể chỉ có ở miền Bắc nước ta
mà thôi. Một ông Nam Kỳ nói “Ở trong Nam tụi tui đâu có cái
chiện đi ăn giỗ mà đem đồ về nhà bao giờ.” Anh nọ tiếp “Hể nhà
nào trong xóm có đám giỗ th́ tụi tui kiếm con cá lóc, trái
thơm, anh th́ xị đế…đem đi ăn giỗ. Đi ăn giỗ là phải có cái ǵ
đó đem theo chớ đi tay không coi đâu có được.”
“Mà thôi, chuyện nay có khác chút đỉnh cũng không sao mà, có
điều ăn đám giỗ ở VN sao mà vui lắm, anh nào anh nấy bước ra
khỏi đám giỗ là ngă tới, xiển lui chớ đâu có b́nh yên ngồi im
trên bàn im ru bà rù như vầy.”
Được biếu cái bánh chưng vuông vức ngon
lành làm quà. Của không đáng là bao, mà sao nghĩa t́nh đến vậy?
Về nhà con cháu nó nh́n cái bánh thấy lạ, bốn cạnh vuông đều, lá
xanh mượt mà…mà sao cái bánh nhỏ bằng nửa cái bánh bán ngoài
chợ? Cắt ra ăn thử, cả nhà đều khen ngon. Chẳng lẻ ông Hùng
Vương ban phước vào lộc tổ? Nhân đó, kể cho đứa cháu nghe sự
tích cái bánh dầy, bánh chưng. Được dịp khoe tài hay chữ với má
sắp nhỏ ở nhà.
Ngày xưa, đời Vua Hùng Vương thứ
6, sau khi đánh dẹp xong giặc Ân, vua có ư định truyền ngôi cho
con. Nhân dịp đầu Xuân, vua mới họp các hoàng tử lại, bảo rằng:
"Con nào t́m được thức ăn ngon lành, để bày cỗ cho có ư nghĩa
nhất, th́ ta sẽ truyền ngôi vua cho".
Các hoàng tử đua nhau t́m kiếm
của ngon vật lạ dâng lên cho vua cha, với hy vọng ḿnh lấy được
ngai vàng. Trong khi đó, người con trai thứ 18 của Hùng Vương,
là Tiết Liêu (c̣n gọi là Lang Liêu) có tính t́nh hiền hậu, lối
sống đạo đức, hiếu thảo với cha mẹ. V́ mẹ mất sớm, thiếu người
chỉ vẽ, nên ông lo lắng không biết làm thế nào.
Một hôm, Tiết Liêu nằm mộng thấy có vị
Thần đến bảo: "Này con, vật trong Trời Đất không có ǵ quư bằng
gạo, v́ gạo là thức ăn nuôi sống con người. Con hăy nên lấy gạo
nếp làm bánh h́nh tṛn và h́nh vuông, để tượng h́nh Trời và Đất.
Hăy lấy lá bọc ngoài, đặt nhân trong ruột bánh, để tượng h́nh
Cha Mẹ sinh thành." Tiết Liêu tỉnh dậy, vô cùng mừng rỡ. Ông làm
theo lời Thần dặn, chọn gạo nếp thật tốt làm bánh vuông để tượng
h́nh Đất, bỏ vào chơ chưng chín gọi là Bánh Chưng. Và ông giă
xôi làm bánh tṛn, để tượng h́nh Trời, gọi là Bánh Dầy. C̣n lá
xanh bọc ở ngoài và nhân ở trong ruột bánh là tượng h́nh cha mẹ
yêu thương đùm bọc con cái.
Đến ngày hẹn, các hoàng tử đều đem thức
ăn đến bày trên mâm cỗ. Ôi thôi, đủ cả sơn hào hải vị, nhiều món
ngon lành. Hoàng tử Tiết Liêu th́ chỉ có Bánh Dầy và Bánh Chưng.
Vua Hùng Vương lấy làm lạ hỏi, th́ Tiết Liêu đem chuyện Thần báo
mộng kể, giải thích ư nghĩa của Bánh Dầy Bánh Chưng. Vua cha nếm
thử, thấy bánh ngon, khen có ư nghĩa, bèn truyền ngôi Vua lại
cho Tiết Liêu con trai thứ 18.
Kể từ đó, mỗi khi đến Tết Nguyên Đán,
th́ dân chúng làm bánh Chưng và bánh Dầy để dâng cúng Tổ Tiên và
Trời Đất. (Cổ tích Việt Nam)
"Thịt mỡ, dưa hành, câu đối đỏ. Cây nêu,
tràng pháo, bánh chưng xanh”
Mỗi độ xuân về th́ nhà nào, xóm nào mà
chẳng có bánh mứt, pháo, nêu, hoa quả…Bánh chưng làm từ gạo nếp,
đậu xanh, thịt heo và gói trong lá dong, lá chuối... Bánh được
làm vào các dịp Tết và ngày mùng 10 tháng 3 Âm lịch (giổ tổ Hùng
Vương).
Ăn Tết ở hải ngoại mà ḷng th́ nhớ những cái
Tết xưa, nhớ về Tết với những chiếc bánh chưng được chọn lựa cầu
kỳ từ chiếc lá dong, đến hạt nếp cái hoa vàng, đậu xanh cho tới
lạt tre. Ngày nay, tục nấu bánh chưng ngày Tết (có vẻ) chỉ c̣n
là một nghi thức. Những người sống tại các thành phố lớn dường
như không có được cái cảm giác náo nức đêm giao thừa ấm cúng
quây quần quanh nồi bánh chưng với gia đ́nh. Giờ đây, bánh chưng
cho ngày Tết mua tại các siêu thị, chợ búa . Ở nông thôn, hương
vị Tết vẫn c̣n cảm nhận được phần nào qua nồi bánh chưng.
Thiệt đúng là “Thân cư hải ngoại, tâm tại cố hương” (LVĐ)
Không khí ngày Tết bây giờ không
c̣n thấy cảnh các bà tất bật những ngày giáp tết, nào rửa lá
dong, nào ngâm gạo, cảnh trẻ con mặt mũi háo hức ngồi xem mẹ gói
bánh; cảnh già trẻ lớn bé ngồi trông nồi bánh chưng qua đêm,
ngoài trời sương lạnh, buốt giá không át được không khí ấm nồng
quanh bếp lửa hồng .
Với nhiều thế hệ, chiếc bánh chưng là
niềm hân hoan của ngày Tết sum họp, đoàn tụ. Những chiếc bánh
đẹp, dày dặn, vuông thành sắc cạnh được dành riêng để bày bàn
thờ cúng ông bà tổ tiên, Tết đến, xuân về, h́nh ảnh những chiếc
bánh chưng vẫn nhắc nhở mỗi người chúng ta về giá trị văn hóa …
Thời nay, những nguyên liệu làm bánh
chưng vẫn vậy: vẫn gạo nếp, đậu xanh, nhân thịt, lá dong. Qua
h́nh dáng chiếc bánh chưng, bánh dày, đến ư nghĩa của hai chữ
"vuông tṛn" trong ngôn ngữ Việt. (vhvietnam.net)
Xưa bày nay làm. Ở hải ngoại c̣n mấy ai biết gói bánh
chưng? Vào tháng 9 năm ngoái, tại buổi lễ Kỷ Niệm Chu Niên của
liên đoàn Hướng đạo Bách Việt, một anh huynh trưởng đă chỉ dạy
các em trong đoàn gói chiếc bánh chưng và đến đêm ngồi nấu bánh.
Chiếc bánh vuông vức đều cạnh được đem biếu tặng các quan khách
ngoại quốc tham dự ngày lễ kỷ niệm có các ông Dave Cortese, Pete
McHugh, Jose Esteves. Các anh chị huynh trưởng hướng đạo Bách
Việt muốn đi ngược lại ḍng lịch sử, đem các em bé Việt về lại
với HùngVương, cái thưở vua Hùng với 18 đời dựng nước, với huyền
sử Bách Việt trăm trứng nở trăm con, và con dân nước đó gọi nhau
là Đồng Bào…Cùng một bào thai sanh trăm giống Việt…để giáo dưỡng
các em bé Việt Nam rằng “Bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng
khách giống nhưng chung một giàn” th́ huống chi cùng giống “Gà
cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”
Lê B́nh